CHƯƠNG VII – BÀI 5: PHẢN ỨNG PHÂN HẠCH
I- Sự phân hạch:
Là hiện tượng một hạt nhân nặng vỡ thành hai hạt nhân nhẹ hơn.
II- Phản ứng phân hạch kích thích:
1/ Định nghĩa:
Là hiện tượng một hạt nhân nặng hấp thu một neutron và chuyển sang trạng thái không bền vững, sau đó tự vỡ thành hai hạt nhân có số khối trung bình (kèm theo một vài neutron phát ra).
n + X → X* → Y + Z + kn (k = 1,2,3)
- Quá trình phân hạch không trực tiếp mà phải qua trạng thái kích thích X* nên gọi là phản ứng phân hạch kích thích.
– Ví dụ: Sự phân hạch của hạt nhân U235:

1/ Neutron hấp thụ: Có hai loại neutron:
- Neutron chậm (hay neutron nhiệt): là neutron có động năng dưới 0,1eV. Đồng vị dễ dàng phân hạch khi hấp thu neutron chậm.
- Neutron nhanh: là neutron có động năng lớn hơn 1MeV. Đồng vị dễ dàng phân hạch khi hấp thu neutron nhanh.
- Neutron chậm dễ bị hấp thu hơn neutron nhanh.
3/ Đặc điểm của phản ứng phân hạch kích thích:
Phản ứng phân hạch kích thích sinh ra 2 đến 3 neutron và tỏa ra năng lượng khoảng 210MeV dưới dạng động năng của các hạt.
4/ Phản ứng phân hạch dây chuyền:
Nếu sau mỗi phân hạch, còn lại trung bình k neutron (k ≥ 1), thì sau n lần phân hạch liên tiếp số neutron được giải phóng là kn và kích thích kn phân hạch mới.
– Vậy số neutron tăng lên rất nhanh theo cấp số nhân tạo ra phản ứng phân hạch dây chuyền, k được gọi là hệ số nhân neutron.
a/ Điều kiện về hệ số nhân neutron để phản ứng phân hạch dây chuyền xảy ra:
b/ Điều kiện về khối lượng chất phóng xạ để phản ứng phân hạch dây chuyền xảy ra:
- Muốn cho k ≥ 1 để phản ứng hạt nhân dây chuyền xảy ra thì khối lượng chất phân hạch:
- Phải đạt một giá trị tối thiểu gọi là khối lượng tới hạn mth. (Với thì mth = 15kg; với plutoni mth = 5kg).
- Phải đủ lớn để số neutron bị “bắt” nhỏ hơn nhiều so với số neutron được giải phóng.
5/ Phản ứng phân hạch có điều khiển:
Phản ứng này được thực hiện ở lò phản ứng hạt nhân, nhiên liệu phân hạch thường là U235 hay Pu239, hệ số nhân neutron trong lò phải giữ ở mức k = 1.
III- Cấu tạo lò phản ứng hạt nhân:
1/ Cấu tạo lò phản ứng hạt nhân:
- Bộ phận chính là lò phản ứng hạt nhân ở đó phản ứng được khống chế ở mức tới hạn k = 1), gồm những thanh nhiên liệu A (thường làm bằng hợp kim chứa U235 hay Pu239) , đặt trong chất làm chậm B và các thanh điều khiển C (chứa bo hay cađimi – những chất này có tác dụng hấp thụ neutron).
- Chất tải nhiệt.
- Lò sinh hơi D.
2/ Hoạt động của lò phản ứng:
- Năng lượng tỏa ra của phản ứng phân hạch chuyển thành nhiệt năng và truyền cho chất tải nhiệt.
- Chất tải nhiệt nhận năng lượng từ lò phản ứng tải qua lò sinh hơi D. Hơi nước được dùng để chạy turbin của máy phát điện.
- Khi số neutron trong lò tăng lên quá nhiều (k > 1), người ta cho các thanh điều khiển ngập sâu vào khu vực chứa nhiên liệu phân hạch để hấp thụ số neutron thừa. Năng lượng tỏa ra từ lò phản ứng không đổi theo thời gian.
3/ Ứng dụng:
- Nếu kỹ thuật an toàn được đảm bảo tốt thì lò phản ứng hạt nhân đượng dùng làm nhà máy điện nguyên tử rất tiện lợi vì có kích thước nhỏ, tiêu tốn rất ít nhiên liệu. Do đó cũng có thể đặt chúng lên máy bay, tàu thủy.
———————————————-
ỨNG DỤNG VẬT LÝ TRONG ĐỜI SỐNG
♦ Tại sao tia phóng xạ lại nguy hiểm cho sức khoẻ con người?Tại sao tia phóng xạ lại nguy hiểm cho sức khoẻ con người?
1/ Nguồn phóng ra tia phóng xạ:
- Do tự nhiên: sự phân rã và phát tán phóng xạ của các quặng vật chất nặng trong thiên nhiên.
- Do nhân tạo: nổ bom hạt nhân hay tai nạn meltdown (meltdown: cuộc khủng hoảng. Các sự cố nóng chảy chất liệu hạt nhân tại các nhà máy điện hạt nhân gây ra nổ nhà máy gọi là “tai nạn meltdown).
Nhưng từ dạng nào chăng nữa các tia phóng xạ đều nguy hiểm cho con người hay các sinh vật khác.
2/ Nguyên nhân gây nguy hiểm của các tia phóng xạ:
Các dạng hạt alpha, beta, neutron, hay các tia gamma hay tia vũ trụ phóng đi trong phản ứng hạch tâm, tất cả đều có khả năng ion hóa, có nghĩa rằng khi nó tương tác với các nguyên tử chúng có khả năng bứt tung vành đai âm điện tử.
- Sự mất mát âm điện tử do các tia này bắn qua sẽ gây ra hậu quả gồm: hủy diệt tế bào sống, làm lệch lạc đi cấu trúc của gene đưa đến ung thư .
a/ Hạt Alpha (alpha particle):
- Tương đối lớn, chúng không có khả năng xuyên qua vật chất ngay cả 1 tờ giấy chăng nữa.
– Vậy tia alpha (hạt Alpha) không gây hại cho con người. Ngoại trừ con người ăn hay hít thở các nguyên tử có phát tán hạt alpha thì có thể gây nguy hiểm cho cơ thể con người từ bên trong.
b/ Hạt Beta:
- Có khả năng xuyên phá sâu hơn hạt Alpha một phần và nguy nhất là do ăn vào hay hít vào các nguyên tử có khả năng phóng ra hạt beta này (chúng ta còn gọi tia beta).
– Tia beta có thể ngăn bằng tấm nhôm mỏng.
c/ Hạt Neutrons và tia gamma:
- Các hạt neutrons và tia gamma phát ra từ phản ứng phân hạch (Nuclear fission) các nguyên tố nặng như Uranium 235. Vì chúng không mang điện năng (trung tính = neutral) nên nguy hiểm nhất vì nó xuyên phá sâu nhất. Chúng chỉ bị ngăn bằng các thành bê tông dày, bằng 1 tấm chì càng dày càng tốt hay các chất lỏng như nước hay dầu nhiên liệu .
– Vì tia gamma và neutron có tính xuyên phá sâu nhất nên nguy hiểm cho con người nhất!
Cách xử trí khi có sự cố phóng xạ
Bạn làm gì nếu biết nơi mình ở có phóng xạ? Hoảng loạn, tung tin đồn không phải là giải pháp; mà phải bình tĩnh làm theo hướng dẫn của cơ quan chức năng. Để tránh nhiễm xạ trong, có thể đeo găng tay, khẩu trang…
Dưới đây là những hướng dẫn xử trí cho người dân do Chính phủ Nhật đưa ra, được Cục An toàn bức xạ và hạt nhân (Bộ KH&CN) dịch ra tiếng Việt.
Khi có sự cố hạt nhân (tức là có sự rò rỉ phóng xạ khỏi cơ sở hạt nhân):
1/ để bảo vệ cơ thể mình khỏi nhiễm xạ ngoài, bạn cần:
- Bảo vệ bằng khoảng cách (tránh càng xa nguồn phóng xạ càng tốt)
– Bảo vệ bằng thời gian (thời gian tiếp xúc phóng xạ càng ngắn càng tốt)
– Bảo vệ bằng che chắn (trú ẩn vào các tòa nhà bằng bê tông)
2/ Để bảo vệ cơ thể khỏi nhiễm xạ trong, bạn nên:
- Tránh việc hít phải chất phóng xạ (đeo mặt nạ, khẩu trang hoặc găng tay)
– Tránh việc hấp thụ các chất phóng xạ (không uống hoặc ăn nước và thức ăn nhiễm xạ)

3/ Các vật liệu có tác dụng ngăn chặn tia phóng xạ:
Tùy thuộc vào số lượng, phóng xạ có thể gây hại cho sức khỏe con người. Trên hình là các nguồn phóng xạ tự nhiên mà con người nhận được mỗi năm. Trong các loại vật liệu thì chì có tác dụng ngăn cản tia phóng xạ tốt nhất.
4/ Việc cần làm khi được yêu cầu trú ẩn:
Nếu được yêu cầu trú ẩn trong nhà, bạn cần chạy vào tòa nhà, công sở nơi gần nhất, và thực hiện các yêu cầu như trên hình để đảm bảo an toàn tối đa.
5/ Việc cần làm khi được yêu cầu sơ tán:
Nếu được yêu cầu sơ tán, bạn cần bình tĩnh cho việc này và làm theo các chỉ dẫn như hình vẽ trên. Hãy chắc chắn là bạn đã mang theo thiết bị cần thiết và những thứ quý giá như đài phát thanh, đèn pin, tiền mặt, sổ tiết kiệm, con dấu, quần áo để thay, khẩu trang, khăn tay, thức ăn đồ uống.
6/ Việc cần làm khi đã bị phơi nhiễm phóng xạ:
Nếu đã bị phơi nhiễm phóng xạ, bạn phải rửa và làm sạch nếu thấy cần thiết, đề nghị được kiểm tra mức độ phơi nhiễm. Các chuyên gia sẽ giúp bạn.
Làm giàu Uranium là gì? Tại sao phải làm giàu Uranium? Công nghệ làm giàu Uranium?
I- Làm giàu Uranium là gì? Tại sao phải làm giàu Uranium?
Urani tự nhiên tồn tại dưới dạng hỗn hợp ôxit urani U2O8 trong quặng pesơblin. Quặng này là nguyên liệu xuất phát để điều chế kim loại nguyên chất hoặc các hợp chất khác. Lượng Urani có trong quả đất tương đối ít, hàm lượng trung bình trong đất đá chỉ chiếm khoảng ba phần triệu (3.10 4%), gần như cùng hàm lượng của các nguyên tố hiếm hoi khác như Bo, Môlipđen, Ytecbi và Tali.
Kim loại Urani lại gồm hai thành phần đồng vị chủ yếu, U-238 và U-235. Trong đó, U-238 chiếm hàm lượng áp đảo với 99,7%. Còn đồng vị U-235 quá ư nghèo, chỉ chiếm 0,3% (tức 3 phần ngàn). Điều oái oăm là U-235 hiếm, nhưng quý. Vì chỉ U-235 mới tham gia phản ứng hạt nhân dây chuyền, một phản ứng cần thiết để duy trì sự cung cấp nhiệt cho hoạt động của nhà máy điện hay tạo nên vụ nổ cần thiết.
Trong thực tế, khó có thể tách được một lượng U-235 ròng tuyệt đối. Chỉ có thể làm giàu đồng vị U-235 trong hỗn hợp kim loại Urani đến một tỉ lệ nhất định.
- Với độ giàu khoảng 5% (hay U-235 giàu 5%), kim loại hỗn hợp Uranium đã có thể dùng làm nhiên liệu cho nhà máy điện hạt nhân.
- Nhưng để làm chất nổ cho bom nguyên tử thì U-235 phải chiếm trên 90% trong hỗn hợp kim loại Uranium. Người ta gọi đó là Uranium “giàu”.
Vậy, quá trình tăng thành phần U-235 trong kim loại hỗn hợp Uranium được gọi là công nghệ làm giàu Uranium.
II- Công nghệ làm giàu Uranium:
Hiện nay, có nhiều phương pháp để làm giàu Uranium như: Tách đồng vị điện từ (Electromagnetic Isotope Separation), Khuyếch tán nhiệt (Thermal Diffusion), Khuyến tán khí (Gaseous Diffusion), Khí động học (Aerodynamic Processes), tách đồng vị La-de (Laser Isotope Separation), Trao đổi iôn và hoá học (Chemical and Ion Exchange), Tách Plasma (Plasma Separation) và Khí ly tâm (Gas Centrifuge).
Phương pháp phổ biến để làm giàu Uranium hiện nay là phương pháp ly tâm (Iran hiện đang sử dụng phương pháp này).
Phương pháp ly tâm để tách đồng vị U 235 ra khỏi U-238 dựa trên sự khác nhau về lực ly tâm của các phân tử khí nhẹ và nặng hơn. Sự tách riêng bằng phương pháp ly tâm được thực hiện trong các xy lanh quay. Hổn hợp các phân tử các loại khác nhau khi đi vào các xy lanh quay được tách thành hai dòng. Những phân tử nặng hơn bị gạt ra vùng ngoại biên của máy ly tâm và chuyển động xuống dưới dọc theo thành ngoài, còn cũng những phân tử ấy nhưng nhẹ hơn thì bị đẩy vào phần trung tâm hướng lên trên dọc theo trục của máy ly tâm. Trong phương pháp này, U 238 và U 235 chỉ đạt được sự tách riêng hoàn toàn khi cho hỗn hợp khí đi qua máy liên tục hàng nghìn lần. (Theo “Định luật tuần hoàn và hệ thống tuần hoàn các nguyên tố của Mendeleep”. N.P.Agaphosin, NXB Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội-1981).
Muốn đạt độ giàu U-235 càng cao và thu được khối lượng nhiên liệu lớn, cần có nhiều máy ly tâm, hàng trăm, hàng nghìn và thậm chí hàng chục nghìn cỗ máy.
Rõ ràng, với hàng trăm máy siêu ly tâm đang làm việc hết công suất, Iran đã có công nghệ làm giàu Uran.
(Theo H2VN.com)
———————————————-
TƯ LIỆU
♦ Thảm họa hạt nhân Chernobyl (Ukraina)Thảm họa hạt nhân Chernobyl (Ukraina).
(Haimat.vn) – Vụ tai nạn ngày 26/4/1986 tại nhà máy điện Chernobyl đã gây ra thảm hoạ hạt nhân tồi tệ nhất trong lịch sử thế giới. Sai lầm trong thiết kế và điều khiển tạo thành vụ nổ mạnh đến mức thổi bay cả phần nóc nặng nghìn tấn của lò phản ứng số 4, phát tán vô số chất phóng xạ vào môi trường sống.
Con số thiệt hại về nhân mạng trong thảm họa cho đến nay vẫn còn là điều gây tranh cãi. Đây là tai nạn nghiêm trọng hơn nhiều so với sự cố tại nhà máy hạt nhân tại Three Mile Island của Mỹ năm 1979, từng làm một số chất phóng xạ rò rỉ.
Báo cáo năm 2005 của Chernobyl Forum – tổ chức được thành lập bởi Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), Liên Hợp Quốc và chính phủ các nước Belarus, Nga, Ukraina – kết luận rằng, khoảng 50 người chủ yếu là công nhân trong nhà máy đã chết do phơi nhiễm phóng xạ.
Họ ước tính 4.000 người khác có thể cũng chết sau đó do nhiễm phóng xạ. Tuy nhiên, tổ chức Hoà bình Xanh cho rằng, con số này cao hơn nhiều và lên đến 93.000 người. Trong khi đó, theo số liệu chính thức chỉ có 31 nạn nhân thiệt mạng tức thì sau tiếng nổ.
Một khối bê tông cốt thép trông như một chiếc quan tài khổng lồ vội vàng được xây lên, để lấp chiếc lò phản ứng bị nổ. Nhưng nó đang suy yếu theo thời gian và dự kiến sẽ phải thay thế vào năm 2007. Nhưng trước khi nó được xây chất phóng xạ đã kịp lan từ Ukraina sang nước láng giềng Belarus và nhiều nơi khác ở châu Âu.
Nhà máy điện hạt nhân Chernobyl vẫn tiếp tục sản xuất điện thêm 14 năm sau thảm hoạ và chỉ đóng cửa hoàn toàn vào năm 2000 do sức ép của quốc tế. Một vùng cách ly có bán kính 30 km được thiết lập quanh Chernobyl và đây là một trong những điểm nhiễm phóng xạ đậm đặc nhất trên hành tinh hiện nay.
Cỗ “quan tài” bê tông che phủ lò phản ứng số 4 ở Chernobyl hiện nay (ảnh BBC).
Ngày định mệnh
Một trong 4 lò phản ứng tại nhà máy Chernobyl, cách Kiev 110 km, phát nổ lúc 01h23′ giờ địa phương, ngày thứ bảy 26/4/1986. Chỉ hai ngày sau, bụi phóng xạ được phát hiện tận Thuỵ Điển, Na Uy và Phần Lan, cách đó hơn 1.600 km.
Riêng tại Thuỵ Điển, sự tăng đột biến của mức độ phóng xạ đủ lớn đến mức cho ban bố tình trạng báo động. Lúc đầu nước này tưởng rằng đã xảy ra tai nạn tại một trong những lò phản ứng của họ bên bờ biển Baltic. Lệnh di tản 600 công nhân tại đây được phát ra, trước khi các chuyên gia phát hiện nguồn chất phóng xạ đến từ Liên Xô.
Dù vậy, Liên Xô vẫn bưng bít không chịu công nhận xảy ra sự cố tại Chernobyl. Mãi tới 9h tối ngày 28/4, sau khi bị Thuỵ Điển gây sức ép dữ dội Matxcơva mới chịu ra một tuyên bố vỏn vẹn có 5 câu đề cập đến thảm hoạ trên:
“Một tai nạn đã xảy ra tại nhà máy điện hạt nhân Chernobyl. Một trong các lò phản ứng bị hư hại. Các biện pháp đang được thực hiện để giải quyết hậu quả. Những nạn nhân đang được cứu trợ. Chính phủ thành lập một uỷ ban về tai nạn này”.
Từ “hư hại” không phản ánh đúng sự thật về việc một lõi lò phản ứng hạt nhân đang tan chảy, phát tán vô số chất phóng xạ vào khí quyển. Theo các chuyên gia ước tính, lượng phóng xạ từ vụ nổ Chernobyl cao gấp hàng trăm lần hai quả bom nguyên tử do Mỹ ném xuống Nhật Bản năm 1945.
Không gì đen tối hơn số phận người dân sống ở Pripyat, thành phố dành cho các nhân viên nhà máy cùng gia đình cách lò phản ứng 2 km. Cuộc sống tại đây vẫn diễn ra bình thường sau vụ nổ. Hầu hết người dân đều vô tư ra ngoài vào sáng hôm đó để “hưởng” kiểu thời tiết ấm áp khác thường. Có 16 đám cưới vẫn diễn ra vui vẻ trong ngày cuối tuần 26/4/1986.
Thành phố Pripyat chỉ nhận lệnh sơ tán sau khi vụ nổ đã xảy ra được 36 giờ. Trong khi đó, các ngôi làng lân cận phải vài ngày sau mới được di tản xong. Còn tại thủ đô Kiev cách đó hơn 100 km, người dân vẫn nô nức đón chờ cuộc diễu hành nhân ngày Quốc tế lao động mà hoàn toàn không ý thức gì về lượng phóng xạ khổng lồ đang ụp lên đầu họ.
Thổi phồng thông tin
Phải hai tuần sau vụ nổ tại nhà máy Chernobyl, chính quyền Liên Xô mới chính thức thừa nhận về một thảm hoạ hạt nhân đang tồn tại ở Ukraina. Sự bưng bít thông tin dẫn đến sự hoang mang của người dân khi người ta bắt đầu biết được một vài điều. Lúc đó xuất hiện căn bệnh tâm lý sợ nhiễm phóng xạ radiophobia ở Ukraina.
Hơn nữa, thông tin thiếu chính xác cũng gây ra sự thổi phồng và nhầm lẫn trong giới truyền thông của phương tây. Hãng thông tấn UPI trích một nguồn tin ở Kiev cho biết, có tới 2.000 người thiệt mạng ngay lập tức trong vụ nổ và con số này đã xuất hiện trên rất nhiều trang nhất các báo lớn.
Giới chức Mỹ cũng đưa ra những thông tin sai lầm dựa vào các bức ảnh chụp từ vệ tinh. Một nguồn tin Lầu Năm Góc tiết lộ với kênh truyền hình Mỹ NBC hôm 29/4/1986 rằng, con số 2.000 người chết “có vẻ đúng vì có 4.000 người làm việc tại nhà máy Chernobyl”.
Những người anh hùng
Tới những ngày đầu của tháng 5/1986, các nhóm trực tiếp giải quyết hậu quả vụ nổ đưa ra cảnh báo về lượng phóng xạ bị rò rỉ bắt đầu tăng trở lại. Họ lo ngại lõi lò phản ứng bị tan chảy sẽ thiêu đốt cả hệ thống nền móng và làm nó bị sập, đồng thời khiến số nhiên liệu hạt nhân bên trong bị nổ lần nữa.
Các chuyên gia lo sợ vụ nổ thứ hai này sẽ còn lớn hơn nhiều so với vụ đầu tiên. Từ đó lõi lò phản ứng sẽ tiếp tục chìm sâu xuống lòng đất, có thể gây ô nhiễm cả nguồn nước sạch cung cấp cho thủ đô Kiev, nơi đang có 2,5 triệu dân sinh sống.
Bất chấp cái chết nhìn thấy rõ vì lượng phóng xạ cực mạnh, những người tham gia khắc phục hậu quả tại lò phản ứng số 4 vẫn dũng cảm lao vào cuộc. Họ là những người dập tắt ngọn lửa, bơm nước vào lò phản ứng và làm sạch nó bằng nitơ lỏng.

Hàng trăm phương tiện, thiết bị của quân đội Nga còn lưu lại trên các ngôi làng nhỏ ngay gần Chernobyl. Tất cả các máy móc này đã tham gia vào việc cứu chữa trong tai nạn Chernobyl và đều đã bị nhiễm xạ.
Dũng cảm không kém là những người thả cát và chì từ trực thăng vào lò phản ứng, lặn xuống hồ nước bên dưới để mở cửa cống, hoặc đào dưới chân móng lò phản ứng để lắp đặt một hệ thống ống dẫn. Hàng nghìn con người dành cả mùa hè năm 1986 để dựng lên cỗ quan tài bằng bê tông bịt kín lò phản ứng cũng xứng đáng được vinh danh vì lòng dũng cảm.
Điều đáng nói là rất nhiều công nhân tham gia khắc phục hậu quả tại Chernobyl đều trong tình trạng bị phơi nhiễm chất phóng xạ. Những người này, gồm nhiều tình nguyện viên, không hề được trang bị thiết bị đo phóng xạ tại nơi mình làm việc để ý thức được môi trường ở đó nguy hiểm như thế nào.
Trước nguy cơ đe doạ sự sống trên quy mộ rộng lớn như vậy, chính quyền Liên Xô đã huy động gần như toàn bộ sức người, sức của và trí tuệ đến Chernobyl để ứng cứu. Hơn 600 nghìn người được tập trung đến đây để tham gia chiến dịch dọn chất độc phóng xạ.
Sai lầm chết người
Nhiều năm sau thảm hoạ người ta mới biết rằng, không hề có biện pháp nào trong nỗ lực ngăn chặn sự tan chảy của lõi lò phản ứng sau vụ nổ thực sự có hiệu quả . Hầu hết số vật liệu thả từ trực thăng xuống đều đi trệch mục tiêu. Trong khi đó, chiến dịch dùng nitơ lỏng cũng được ngừng lại ngay sau khi mở màn.
May mắn là đã không xảy ra một vụ nổ lớn thứ hai như nhiều chuyên gia lo ngại. Thay vào đó là việc hình thành nên một khối đá bọt tại lò phản ứng. Số nhiên liệu hạt nhân còn lại đã chảy vào những khoang trống bên dưới lò phản ứng và hoá cứng tại đây.
Nhưng hiện còn 160 tấn chất phóng xạ vẫn đang nằm trong lòng đất Chernobyl và không ai dám chắc quả bom hẹn giờ ấy có phát nổ hay không hoặc sẽ phát nổ vào lúc nào.
Việc đầu tiên sau khi những nguy hiểm tức thì đã qua là việc truy tìm nguyên nhân tai nạn. Nhiều chuyên gia đồng ý với nhau rằng, sai sót của con người chính là nguyên nhân dẫn tới thảm hoạ. Đó là thiết kế không chính xác trong hệ thống làm mát của lò phản ứng và dẫn đến vụ nổ phá huỷ lò.
Những sai lầm nghiêm trọng của các nhân viên điều hành nhà máy cũng là tác nhân dẫn đến tai nạn. Họ đã vi phạm các nguyên tắc an toàn sản xuất và thực hiện một số động tác không được phép trong quá trình thử nghiệm thiết bị điện tại lò phản ứng số 4.
Hậu quả của thảm hoạ Chernobyl có thể hình dung qua thực tế rằng, thế hệ gây ra tai nạn này không thể tự mình giải quyết tận gốc được. Họ chỉ đủ sức kìm chế những tác hại và chờ thế hệ mai sau có cách giải quyết dứt điểm.
(theo BBC)
Thảm họa hạt nhân Fukushima (Nhật Bản)
Kế hoạch xây dựng nhà máy điện hạt nhân của Việt Nam.
Theo nghị quyết được 77% đại biểu thông qua, dự án điện hạt nhân Ninh Thuận gồm 2 nhà máy. Mỗi nhà máy có 2 tổ máy, công suất 2.000 MW. Nhà máy Ninh Thuận 1 đặt tại xã Phước Dinh, huyện Thuận Nam, được khởi công vào năm 2014 và đưa tổ máy đầu tiên vận hành vào năm 2020.
Nhà máy Ninh Thuận 2 đặt tại xã Vĩnh Hải, huyện Ninh Hải, tỉnh Ninh Thuận. Thời điểm khởi công chưa được xác định mà căn cứ vào tình hình chuẩn bị, Chính phủ báo cáo Quốc hội quyết định sau.
Nghị quyết Quốc hội nêu rõ chọn công nghệ lò nước nhẹ cải tiến, thế hệ lò hiện đại nhất, đã được kiểm chứng, bảo đảm tuyệt đối an toàn và hiệu quả kinh tế tại thời điểm lập dự án đầu tư. Tổng mức đầu tư dự toán 200.000 tỷ đồng.






