CHƯƠNG VII – BÀI 4: PHẢN ỨNG PHÓNG XẠ
I- Sự phóng xạ:
1/ Hiện tượng phóng xạ: là hiện tượng một hạt nhân không bền tự động phóng ra những bức xạ gọi là tia phóng xạ và biến đổi thành hạt nhân khác.
- Tính chất: Tia phóng xạ không nhìn thấy được nhưng có những tác dụng lý hóa như là ion hóa không khí, làm phát quang một số chất, gây ra ra phản ứng quang hóa…
2/ Các loại tia phóng xạ:
- Các tia phóng xạ đều có mang năng lượng (động năng của các hạt, năng lượng của sóng điện từ) nên sự phóng xạ tỏa năng lượng, một phần năng lượng này biến thành nhiệt làm nóng bình đựng chất phóng xạ.
- Dựa vào độ lệch của các tia phóng xạ khi đi qua điện trường hoặc từ trường mà người ta có 3 loại tia phóng xạ: α, β và γ.
a/ Tia anpha (α): là dòng các hạt nhân của nguyên tử
mang điện tích dương. Ký hiệu hạt α: ![]()
- Tính chất tia α:
- Phóng ra từ hạt nhân với vận tốc 2.107(m/s).
- Chỉ đi được tối đa vài cm trong không khí và vài μm trong vật rắn, khả năng đâm xuyên yếu, không xuyên qua được một tấm thủy tinh mỏng hay tấm bìa dày 1mm.
- Làm ion hóa chất khí.
b/ Tia beta (β): gồm hai loại:
là sóng điện từ có bước sóng rất ngắn (dưới 0,01nm), được cấu tạo từ các hạt photon có năng lượng cao, không bị lệch trong điện trường và từ trường.
- Có khả năng đâm xuyên rất lớn, có thể xuyên qua lớp chì dày vài cm hoặc xuyên qua lớp bêtông dày vài m và nguy hiểm cho con người.
II- Định luật phóng xạ:
1/ Đặc tính của quá trình phóng xạ:
- Có bản chất là một quá trình biến đổi hạt nhân.
- Có tính tự phát và không điều khiển được.
- Là một quá trình ngẫu nhiên.
2/ Đặc tính của quá trình phóng xạ:
Mỗi chất phóng xạ được đặc trưng bởi một thời gian T gọi là chu kỳ bán rã, cứ sau mỗi chu kỳ này thì phân nửa nguyên tử của chất ấy đã biến đổi thành chất khác.

2/ Công thức:
3/ Công thức liên hệ giữa N và m:
III- Các quy tắc dịch chuyển của sự phóng xạ:
1/ Phóng xạ α:
2/ Phóng xạ β-:
3/ Phóng xạ β+:
4/ Phóng xạ γ:
Tia γ có Z = 0 và A = 0 nên không có sự biến đổi hạt nhân khi có phóng xạ γ, mà chỉ làm giảm năng lượng của hạt nhân đó. Các bức xạ γ không phát ra độc lập mà luôn đi kèm theo phóng xạ α và β.
IV- Đồng vị phóng xạ và các ứng dụng:
1/ Đồng vị phóng xạ:là đồng vị mà các hạt nhân của nó có thể phóng ra các hạt của tia phóng xạ và biến đổi thành hạt nhân nguyên tử của nguyên tố khác. Các đồng vị phóng xạ của một nguyên tố hóa học có cùng tính chất hóa học như đồng vị bền của nguyên tố đó.
2/ Đồng vị bền:là đồng vị mà các hạt nhân của nó không có sự biến đổi tự phát nào trong suốt quá trình tồn tại.
3/ Các ứng dụng của đồng vị phóng xạ:
———————————————-
CÂU HỎI LÝ THUYẾT
♦ Câu 1: Chu kỳ bán rã, tam rã, tứ rã, ngũ rã...
♦ Câu 2: Dựa vào độ lệch của các tia phóng xạ trong điện trường, hãy đưa đến nhận xét, kết luận của em về các hạt cấu thành tia phóng xạ đó.
♦ Câu 3: So sánh sự giống và khác nhau của tia α và β.
♦ Câu 4: Em hiểu như thế nào câu: "Các bức xạ γ không phát ra độc lập mà luôn đi kèm theo phóng xạ α và β."?
♦ Câu 5: Một phản ứng phóng xạ hạt nhân có thể phát ra đồng thời 2 hạt α và β không?
♦ Câu 6: Tại sao nói C14 được dùng để định tuổi cổ vật gốc sinh vật? Em hiểu cổ vật gốc sinh vật là gì?
———————————————-
PHƯƠNG PHÁP LÀM BÀI TẬP PHÓNG XẠ HẠT NHÂN
♦ Một số khái niệm về logarit. Phương pháp logarit giúp gì cho ta trong bài toán phóng xạ hạt nhân?
MỘT SỐ KHÁI NIỆM VỀ LOGARIT.
I- Logarit:
1/ Định nghĩa:
Cho a là một số dương khác 1 và b là một số dương. Số thực x để ax = b được gọi là logarit cơ số a của b. Ký hiệu: logab.
ax = b ↔ x = logab
2/ Một số công thức logarit thường dùng trong vật lý hạt nhân:
II- Logarit thập phân:
Trong thực hành ta thường dùng hệ đếm thập phân (hệ đếm cơ số 10), từ đó người ta thường dùng logarit thập phân để tìm giá trị gần đúng của một số thực dương bất kỳ.
Logarit cơ số 10 của một số dương a được gọi là logarit của a. Ký hiệu: loga (hoặc lga)
log10a ≡ loga ≡ lga
♦ Tính khối lượng của chất được tạo thành trong phản ứng phóng xạ.
♦ Tính thể tích của chất được tạo thành trong phản ứng phóng xạ.
———————————————-
ỨNG DỤNG VẬT LÝ TRONG ĐỜI SỐNG













1 Comment to "CHƯƠNG VII – BÀI 4: PHẢN ỨNG PHÓNG XẠ"
bí ẩn
Tháng Tư 15, 2012